Kinh tế Đông Á - Thái Bình Dương tiếp tục chịu ảnh hưởng do dịch COVID-19 kéo dài

Năm 2020, nhiều quốc gia tại Đông Á và Thái Bình Dương (EAP) đã thành công trong việc kiểm soát dịch COVID-19 và hoạt động kinh tế nhanh chóng hồi sinh trong khi các khu vực khác phải vật lộn với đại dịch và suy thoái kinh tế. Nhưng sang năm 2021, EAP đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi biến thể COVID-19 Delta trong khi nhiều nền kinh tế phát triển đang trên con đường phục hồi kinh tế.

Theo Ngân hàng Thế giới (WB) sự tiếp diễn của đại dịch sẽ kéo dài tác động nặng nề với kinh tế và con người nếu từng cá nhân và doanh nghiệp không thể thích ứng. Trong dài hạn, COVID-19 sẽ làm giảm tăng trưởng và gia tăng bất bình đẳng trừ phi các hậu quả dai dẳng được khắc phục và các cơ hội được nắm bắt. Các hành động chính sách cần phải giúp các chủ thể kinh tế thích nghi trong giai đoạn hiện nay và đưa ra các lựa chọn ngăn chặn sự suy giảm và chênh lệch trong tương lai.

Diễn biến kinh tế khu vực EAP

Sự phục hồi trong khu vực EAP hiện đang trở nên không đồng đều hơn. Tăng trưởng chung của khu vực được dự đoán ở mức 7,5% năm 2021, chủ yếu phản ánh quy mô kinh tế của Trung Quốc với tăng trưởng dự kiến 8,5% trong năm nay. Phần còn lại của khu vực ước tính sẽ chỉ tăng 2,5%, thấp hơn nhiều so với dự báo 4,4% của WB hồi tháng 4/2021, với sự chênh lệch đáng kể giữa các quốc gia. Trong khi Trung Quốc, Indonesia và Việt Nam đã vượt qua mức tăng trưởng trước đại dịch thì Campuchia, Malaysia và Mông Cổ sẽ chỉ có thể phục hồi vào năm 2022; Philippines, Thái Lan, và nhiều quần đảo Thái Bình Dương sẽ vẫn ở mức thấp hơn trước đại dịch cho tới năm 2023.

Trong giai đoạn từ 2019 - 2020, tỷ lệ việc làm trong khu vực đã giảm trung bình 2 điểm %. Tại các nền kinh tế EAP đang phát triển - không bao gồm Trung Quốc - khoảng 24 triệu người sẽ không thể thoát nghèo vào năm 2021 do COVID-19. Trong khi tất cả các hộ gia đình đều phải gánh chịu thiệt hại, những người nghèo hơn có nhiều khả năng bị mất thu nhập, bán tài sản sản xuất, nguy cơ thiếu ăn, và trẻ em không được học tập.

Các biện pháp ngăn chặn sự COVID-19 đang cản trở hoạt động kinh tế. Xét nghiệm - truy vết - cách ly, phong tỏa - một chiến lược thành công trong năm 2020, đã trở nên kém hiệu quả đối với biến thể Delta có khả năng lây nhiễm nhanh hơn. Do tốc độ tiêm chủng tại nhiều quốc gia trong khu vực vẫn còn tương đối chậm nên các chính phủ đã buộc phải áp dụng các hạn chế để ngăn chặn sự lây lan của vi rút. Nhìn chung, các nước có tỷ lệ tiêm chủng cao, tình trạng gián đoạn hoạt động kinh tế cũng xảy ra ít hơn. Theo ước tính, cứ môi 10% tỷ lệ bao phủ tiêm chủng cao hơn có thể giúp GDP hàng quý cao hơn 0,5 điểm %.

Tuy nhiên so với các đợt bùng phát trước đó, hai yếu tố đã làm giảm bớt tác động của đợt làn sóng lây nhiễm hiện nay. Thứ nhất, hoạt động kinh tế trong nước cho đến nay đã đã ít nhạy cảm hơn với dịch bệnh. Thứ hai, môi trường năng động bên ngoài đã giúp duy trì xuất khẩu của khu vực. Vào tháng 8/2021, xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc đã tăng 31% về giá trị so với Quý IV/2019 và con số này của các quốc gia EAP khác tăng tương ứng 21%.

Mặc dù vậy, nhu cầu nhập khẩu hàng hóa toàn cầu đã đạt đỉnh vào Quý II/2020 và xuất khẩu của khu vực đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ hơn khi các khu vực khác phục hồi. Giá hàng hóa giá đã chững lại. Biến thể Delta đang làm gián đoạn hoạt động sản xuất trong nước và tại các quốc gia xuất khẩu nguyên liệu, dẫn đến thiếu hụt nguồn cung cũng như tăng thời gian và chi phí vận chuyển. Sự lây nhiễm của biến thể Delta cũng đã làm chậm quá trình phục hồi của du lịch trong khu vực.

Tình trạng khó khăn kinh tế kéo dài đang làm hạn chế khả năng cung cấp hỗ trợ kinh tế của các chính phủ. Cùng với khó khăn về ngân sách, các hỗ trợ tài khóa trong toàn khu vực giảm cũng đã từ mức trung bình 7,7% vào năm 2020 xuống 4,9% năm 2021, mặc dù vậy các nền kinh tế vẫn đang hoạt động dưới mức tiềm năng. Ngược lại, giá tiêu dùng tuy tăng nhưng vẫn nằm trong mục tiêu của ngân hàng trung ương ở hầu hết các quốc gia, chính sách tiền tệ vì vậy vẫn tiếp tục nới lỏng, lãi suất đã không bị tăng lên, không giống như ở một số thị trường mới nổi khác. Mặc dù các khoản cho vay có rủi ro tăng, hầu hết các quốc gia, ngoại trừ Trung Quốc vẫn chưa thắt chặt các quy định về lĩnh vực tài chính hoặc rút lại các quy định hoãn giãn nợ.

Các rủi ro kinh tế ngắn hạn

COVID-19 có thể ảnh hưởng nghiêm trọng hơn đến tất cả các nền kinh tế trong khu vực. Các hạn chế về tiêm chủng và xét nghiệm có thể làm tái bùng phát các làn sóng lây nhiễm do các biến thể mới, trong khi hệ thống y tế vẫn chưa chuẩn bị để đối phó với tình trạng dịch bệnh kéo dài.

Các nền kinh tế EAP ít phải đối mặt với lạm phát trong nước hơn là áp lực lạm phát bên ngoài. Trừ Mông Cổ và Philippines, áp lực lạm phát của các quốc gia khác tương đối thấp nhờ kỳ vọng được duy trì tốt. Nhưng sự phục hồi nhanh hơn cùng lạm phát tăng ở các nước công nghiệp có thể khiến lãi suất tăng cao và việc thắt chặt tài chính sớm trong khu vực EAP cũng kéo theo các rủi ro.

Nguy cơ bất ổn tài chính vĩ mô đang có dấu hiệu gia tăng. Nợ doanh nghiệp và hộ gia đình đang ở mức cao kỷ lục cùng với nợ xấu của các ngân hàng tăng là một vẫn đề đáng lo ngại. Tất cả các quốc gia trong khu vực đều có các ngân hàng có nguồn vốn tốt nhưng việc nới lỏng các quy định có thể che giấu các vấn đề sâu hơn trong lĩnh vực tài chính. Các công ty sử dụng đòn bẩy tài chính có mối liên hệ chặt chẽ với các tổ chức tài chính phi ngân hàng, cũng gây rủi ro cho sự ổn định tài chính. Mức độ rủi ro này đã được bộc lộ bởi những khó khăn của một số công ty ở Trung Quốc, một trong những quốc gia đầu tiên thu hồi các biện pháp nới lỏng và tiếp tục nỗ lực ngăn chặn rủi ro liên quan đến lĩnh vực bất động sản có đòn bẩy tài chính cao.

Các chính sách cho sự phục hồi

Kiểm soát dịch COVID-19. Xu hướng tiêm chủng hiện nay có thể giúp EAP kiểm soát được COVID-19 vào tháng 6/2022. Trên thế giới, các nước có tỷ lệ tiêm chủng cao trên 60% như: Đức, Israel và Vương quốc Anh, tỷ lệ bệnh tật nghiêm trọng và tử vong đã giảm mạnh. Tại hầu khắp các quốc gia EAP, tỷ lệ tiêm chủng đang tăng lên: tỷ lệ dân số được tiêm ít nhất một liều trung bình là 18% vào cuối tháng 6/2021 đã tăng lên 35% vào cuối tháng 8/2021. Nhiều nền kinh tế EAP có thể đạt 60% tỷ lệ bao phủ vắc xin vào nửa đầu năm sau.Tuy nhiên, độ bao phủ này vẫn sẽ không loại bỏ sự lây nhiễm trùng hoặc tạo ra các biến thể mới, do đó các nước cần phải tìm cách để đạt được tỷ lệ tiêm chủng cao hơn.

Các quốc gia EAP phải thực hiện các biện pháp khác để kiểm soát COVID-19. Xét nghiệm, truy vết và cách ly phải được sử dụng để ngăn chặn sự lây lan của dại dịch, như Singapore đang làm. Các biện pháp phòng ngừa hạn như giãn cách xã hội, đeo khẩu trang cũng sẽ cần được duy trì, nếu không, các biến thể mới có thể dẫn đến tăng mức độ lây nhiễm và tỷ lệ tử vong. Hệ thống y tế phải được tăng cường để đối phó với sự hiện diện kéo dài của COVID-19; việc sản xuất vắc xin, bao gồm cả trong khu vực, phải mở rộng để đáp ứng nhu cầu tăng cao liên tục trong khi nguồn cung từ nhập khẩu không ổn định.

Hỗ trợ tài chính vĩ mô. Hành động chính sách trong nước và quốc tế có thể giúp các chính phủ mở rộng hỗ trợ tài chính mà không làm yếu ổn định tài khóa. Trong nước, các quốc gia có thể đưa ra các nguyên tắc tài khóa như một cam kết hạn chế thâm hụt và nợ trong tương lai; ban hành các quy định cải cách sâu hơn về thu và chi ngân sách. Trên bình diện quốc tế, các quốc gia có thể phối hợp trong các kích thích tài khóa và tăng cường hợp tác về thuế để cho phép huy động nguồn thu nội địa.

Nhiều nước EAP có thể sử dụng dư địa chính sách tiền tệ để hỗ trợ phục hồi kinh tế trong ngắn hạn nhưng phải cảnh giác với nguy cơ thắt chặt tài chính toàn cầu đột ngột. Tăng cường tính độc lập và uy tín của ngân hàng trung ương sẽ giúp neo giữ kỳ vọng lạm phát. Các cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn sẽ cho phép chính sách tiền tệ tự chủ hơn và giảm bớt áp lực đối với dự trữ.

Việc cho phép tiếp cận tín dụng dễ dàng hơn phải đề phòng nguy cơ bất ổn tiềm tàng về tài chính. Các biện pháp nới lỏng, cùng với nợ tích lũy cao kỷ lục của khu vực tư nhân ở một số nơi cần được minh bạch hơn để giúp đánh giá chất lượng tài sản và quy mô của nợ xấu. Các biện pháp nới lỏng cần phải dần dần được dỡ bỏ theo một cách minh bạch và có sự phối hợp để tránh gây bất ổn thị trường. Các quốc gia trong khu vực cần tăng cường các khuôn khổ liên quan đến mất khả năng trả nợ để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xử lý nợ.

Đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Các chính sách thương mại mở có nhiều khả năng hỗ trợ phục hồi kinh tế toàn cầu. Chính sách nội địa của các nước công nghiệp có thể “mang chuỗi giá trị về nhà” nhưng sẽ làm giảm 3% thu nhập thực tế của khu vực EAP vào năm 2030. Ngược lại, tự do hóa và tạo thuận lợi cho thương mại, có thể dẫn đến tăng thu nhập thực tế cho hầu hết các quốc gia, bao gồm cả trong EAP, và góp phần phục hồi.Cải cách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng có thể thúc đẩy tăng trưởng. Những thay đổi gần đây ở Indonesia có thể làm tăng tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm thêm 0,2 điểm %.Hợp tác song phương và khu vực có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, qua đó hỗ trợ phục hồi của ngành du lịch và thu hút lao động.

Các rủi ro kinh tế dài hạn

COVID-19 có nguy cơ tạo ra tác động kép làm chậm tăng trưởng và gia tăng bất bình đẳng tại khu vực EAP. Hậu quả mà nó gây ra có thể là sự thiếu hụt chưa từng thấy trong hai thập kỷ qua. Tại Indonesia và Philippines, khoảng 8 triệu người nữa sẽ vẫn bị mắc kẹt trong đói nghèo vào năm 2023 nếu quá trình phục hồi được không đi cùng các chính sách giảm bất bình đẳng.

Những tác động tiêu cực của đại dịch có khả năng giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Tại Indonesia, Mông Cổ, và Philippines, các công ty mất trung bình hàng tháng ít nhất 40% doanh số và cắt việc làm. Sự thất bại của các công ty đang dẫn đến việc mất các tài sản vô hình có giá trị, như các mối quan hệ với nhà cung cấp hoặc khách hàng và phương pháp kinh doanh. Các công ty còn tồn tại đang trì hoãn các khoản đầu tư hiệu quả. Thất nghiệp có thể làm xói mòn nguồn nhân lực và ảnh hưởng đến thu nhập trong tương lai.

Bất bình đẳng gia tăng giữa các doanh nghiệp có thể làm tăng bất bình đẳng giữa người lao động. Doanh số bán hàng của các công ty lớn vào cuối năm 2020 chỉ thấp hơn 15% so với năm trước, trong khi các công ty siêu nhỏ giảm tới hơn 48%. Các doanh nghiệp lớn cũng có nhiều khả năng áp dụng các công nghệ phức tạp; và có nhiều cơ hội nhận được sự hỗ trợ của chính phủ hơn. Lao động của các công ty đang cắt giảm gặp khó khăn khi họ không thể di chuyển dễ dàng giữa các công ty và địa điểm, và cuộc sống của người nghèo bị ràng buộc doanh nghiệp siêu nhỏ do hộ gia đình quản lý.

Những bất bình đẳng gia tăng giữa các hộ gia đình hiện nay có thể ngày càng trầm trọng hơn. Những cú sốc về thu nhập đối với người nghèo để lại hậu quả bất lợi về lâu dài. Việc bán đi các tài sản sản xuất và nợ tăng lên có thể ảnh hưởng đến thu nhập trong dài hạn. Không đảm bảo về lương thực có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ và tác động đến thu nhập khi trưởng thành. Những hạn chế do học trực tuyến có thể giảm 3,8% thu nhập dự kiến ​mỗi năm.

Các chính sách thúc đẩy tăng trưởng bình đẳng

Đại dịch COVID-19 đang tạo ra cơ hội với sự phổ biến nhanh chóng của công nghệ, giúp thúc đẩy năng suất, cải thiện việc học tập và cải cách các tổ chức nhà nước. Nhưng để khai thác được công nghệ đòi hỏi các cải cách chính sách. Các chính sách mở rộng hỗ trợ cho các doanh nghiệp hiệu quả phải đi cùng với việc tạo điều kiện cho sự gia nhập của các doanh nghiệp sáng tạo mới thông qua cải cách môi trường kinh doanh và có lối thoát cho các doanh nghiệp yếu kém thông qua cải cách luật phá sản và các khuôn khổ xử lý. Cải cách khu vực dịch vụ sẽ giúp các dịch vụ tài chính, thông tin liên lạc, vận tải và các dịch vụ khác hiệu quả hơn. Các quốc gia phải giảm bớt các rào cản thương mại với hàng hóa, dịch vụ và tăng cường quy định cạnh tranh.

Các chính sách cần hỗ trợ sự phổ biến công nghệ rộng rãi hơn. Các công ty được trang bị kỹ năng để ứng dụng công nghệ trong hoạt động kinh doanh của họ phải được hỗ trợ bằng các chính sách cởi mở và cạnh tranh để tăng động lực cho các doanh nghiệp khai thác các công nghệ đó. Trong khi cơ sở hạ tầng kỹ thuật số cho các công nghệ cơ bản thường có sẵn, nhu cầu truy cập băng thông rộng cần được mở rộng để tạo thuận lợi cho việc sử dụng các công nghệ tiên tiến hơn.

Đảm bảo phát triển toàn diện. Mạng lưới an sinh xã hội trong khu vực vẫn còn nhiều khoảng trống đáng kể. Điều này có thể được khắc phục bằng cách mở rộng điều kiện được hỗ trợ cho người nghèo chưa được bảo đảm, tăng phạm vi bảo hiểm xã hội,… Cải cách giáo dục sẽ giúp xây dựng nguồn nhân lực mạnh mẽ hơn, công bằng hơn, tận dụng lợi thế từ các cơ hội công nghệ mới. Nhiều quốc gia trong khu vực đã phải đối mặt với khủng hoảng giáo dục với kết quả đào tạo thấp hơn so với trước COVID-19. Các trường học cần được mở lại một cách an toàn, cung cấp nhiều hỗ trợ giúp cá nhân khắc phục những mất mát trong học tập. Để xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu, cần cải cách về chương trình, tài liệu, phương pháp giảng dạy, tăng cường đầu tư vào công nghệ giáo dục (EdTech).

Theo SBV

footer