TIN MỚI

Kinh tế Đông Á và châu Á Thái Bình Dương sẽ phục hồi nhanh

Kinh te Dong A va chau A Thai Binh DuongNgân hàng Thế giới (WB) dự báo, kinh tế Đông Á và Thái Bình Dương (EAP) có thể tăng trưởng ở mức 7,4% vào năm 2021 nhờ sự phục hồi mạnh mẽ của Trung Quốc.

Tuy nhiên những hậu quả dai dẳng do đại dịch COVID-19 để lại cho nền kinh tế khu vực có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng xuống còn 5,2% trong năm 2022. Với việc kiểm soát tốt dịch bệnh, tiếp tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, Việt Nam là một trong số ít các nước trong khu vực được WB dự báo duy trì tăng trưởng cao ở mức 6,7% và 6,5% trong các năm 2021 và 2022.

Tình hình kinh tế khu vực năm 2020

Trong năm 2020, tăng trưởng khu vực chỉ đạt 0,9% vào năm ngoái - thấp nhất kể từ năm 1967. Mức độ nghiêm trọng của cú sốc đối với nền kinh tế khu vực không đồng đều, phụ thuộc vào mức độ gián đoạn trong nước do đại dịch COVID-19 và tác động lan tỏa từ suy thoái kinh tế toàn cầu. Nhờ thành công trong kiềm chế các ca nhiễm mới, Trung Quốc và Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng dương trong năm 2020 với GDP tăng tương ứng là 2% và 2,8%. Các hoạt động đã được hỗ trợ bởi sự phục hồi nhanh chóng và liên tục của sản xuất và xuất khẩu, được thúc đẩy bổ sung từ các gói kích thích đầu tư công ở cả hai quốc gia, và đầu tư trực tiếp nước ngoài phục hồi nhanh chóng vào Việt Nam.

Trong khi đó, phần còn lại của khu vực có thiệt hại đáng kể trong năm 2020, với GDP giảm 4,3% và tăng trưởng của 2/3 các nền kinh tế khu vực giảm hơn 7 điểm % thấp hơn mức trung bình dài hạn. Những nền kinh tế bị tác động nặng nề nhất là đều có nguyên nhân do thời gian phong tỏa kéo dài cùng với các đợt bùng phát lớn trong nước (Philippines) hoặc có chính sách trong nước không chắc chắn (Malaysia, Thái Lan, Đông Timor), và những nước phụ thuộc nhiều vào du lịch (Fiji, Thái Lan, Palau, Vanuatu).

Tại Trung Quốc, tăng trưởng chậm lại ở mức 2% vào năm ngoái. Sau khi chạm đáy vào tháng 2/2020, sản xuất công nghiệp và đầu tư cơ sở hạ tầng tiếp tục nhanh hơn so với dịch vụ, tiêu dùng và đầu tư tư nhân. Nhập khẩu tăng trưởng chậm lại trong khi xuất khẩu phục hồi, góp phần tăng thặng dư thương mại và tài khoản vãng lai. Từ cuối năm 2020, sự phục hồi đã diễn ra trên diện rộng hơn với lĩnh vực dịch vụ tăng trưởng nhanh và chi tiêu tư nhân tăng vững chắc. Các hỗ trợ tài khóa và tiền tệ được duy trì, nhưng tập trung nhiều hơn cho lĩnh vực sản xuất và các doanh nghiệp vi mô, nhỏ và vừa. Lợi nhuận trong lĩnh vực công nghiệp đã bắt đầu phục hồi, thu ngân sách được cải thiện, mặc dù thâm hụt tài chính và nợ công còn cao.

Triển vọng tăng trưởng 2021 và 2022

Tăng trưởng khu vực được dự báo sẽ tăng tốc lên mức 7,4% vào năm 2021 và 5,2% vào năm 2022. Nếu không tính Trung Quốc, dự báo tăng trưởng của khu vực đạt 4,9% vào năm 2021 và 5,2% vào năm 2022.

Sự phục hồi kinh tế của khu vực đã được dự báo khi việc phân phối vắc xin được triển khai hiệu quả đầu năm 2021 tại các nền kinh tế lớn và muộn hơn ở các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển (EMDEs). Tiêm phòng hiệu quả sẽ hỗ trợ cải thiện từng bước niềm tin trên toàn cầu và khu vực trong tiêu dùng và thương mại. Tuy nhiên, bất chấp đại dịch đang lắng xuống và nhu cầu trong nước và thế giới hồi phục, các hoạt động trong khu vực dự kiến sẽ vẫn thấp hơn xu hướng trước đại dịch cho đến cuối năm 2021, phản ánh những tác động lâu dài do đại dịch gây ra. Tổng thiệt hại cộng dồn trong giai đoạn 2020 - 2022 ước tính khoảng 1,7 nghìn tỷ USD, tương đương với GDP năm 2019 của Indonesia và Thái Lan cộng lại.

Tăng trưởng ở Trung Quốc được dự báo sẽ tăng tốc lên 7,9% trong năm 2021 — cao hơn 1 điểm % so với dự báo tháng 6 của WB, phản ánh sức cầu được giải phóng và khả năng phục hồi nhanh hơn dự kiến của sản xuất và xuất khẩu. Tốc độ tăng trưởng sẽ chậm lại ở mức 5,2% vào năm 2022, thấp hơn khoảng 2% so với dự báo trước đại dịch.

Việt Nam nhờ việc kiểm soát tốt đại dịch, hạn chế thiệt hại về người và kinh tế ở mức nhỏ nhất trong khi xuất khẩu tiếp tục duy trì bất chấp những sóng gió toàn cầu. Kinh tế Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục hồi phục mặc dù mức độ tăng trưởng đạt 6,7% năm 2021 và 6,5% năm 2022, là mức tăng trưởng cao nhất trong số các nước Đông Nam Á.

Quốc gia 2019 2020 2021 2022
 Cambodia 7,1 -2,0 4,0 5,2
 Trung Quốc 6,1 2,0 7,9 5,2
 Fiji -0,4 -19,0 2,6 8,2
 Indonesia 5,0 -2,2 4,4 4,8
 Lào 4,7 -0,6 4,9 4,8
 Malaysia 4,3 -5,8 6,7 4,8
 Mongolia 5,0 -5,2 4,3 5,4
 Myanmar 6,8 1,7 2,0 8,0
 Papua New Guinea 5,9 -3,8 3,5 4,2
 Philippines 6,0 -8,1 5,9 6,0
 Solomon Islands 1,2 -4,8 3,2 3,5
 Thái Lan 2,4 -6,5 4,0 4,7
 Timor-Leste 3,4 -6,8 3,1 4,2
 Việt Nam 7,0 2,8 6,7 6,5

Bảng 1: Dự báo tăng trưởng các nước Đông Á và châu Á Thái Bình Dương (%) (Nguồn: WB)

Ngược lại, các quốc đảo Thái Bình Dương mặc dù phần lớn ít bị tác động bởi đại dịch, nhưng lại bị tàn phá do sự sụp đổ của ngành du lịch và lữ hành toàn cầu. Các nền kinh tế này do vậy vẫn sẽ ở mức thấp hơn 9% so với dự kiến tăng trưởng trước đại dịch.

Theo dự báo của WB, triển vọng tăng trưởng kinh tế của khu vực trong ngắn hạn vẫn không rõ ràng và sự phục hồi là khá mong manh và không đồng đều giữa các nền kinh tế. Một số rủi ro trở thành hiện thực có thể làm chệch hướng phục hồi của nền kinh tế khu vực. Trong một kịch bản bất lợi nếu việc triển khai vắc xin bị trì hoãn trên thế giới có thể khiến sự phục hồi chậm và kéo dài hơn, tăng trưởng khu vực chỉ đạt 0,6% năm 2021 và trung bình 4,7% vào năm 2021 - 2022.

Tác động của đại dịch lên sức cầu của hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ có thể sẽ dai dẳng. Ví dụ: các hộ gia đình duy trì mức tiết kiệm dự phòng ở tỷ lệ cao và tránh các dịch vụ có tiếp xúc trực tiếp. Đại dịch cũng dự kiến sẽ để lại hệ quả lâu dài cho năng suất và tăng trưởng tiềm năng trong khu vực; đầu tư bị suy giảm, nguồn nhân lực bị xói mòn do gián đoạn trong giáo dục cùng tình trạng thất nghiệp kéo dài.

Rủi ro đối với triển vọng tăng trưởng

Rủi ro lớn nhất với triển vọng tăng trưởng khu vực là nguy cơ dịch bệnh cùng những tác động của nó sẽ kéo dài hơn dự đoán; bên cạnh đó là thiệt hại dai dẳng từ chính cuộc suy thoái năm ngoái sẽ lớn hơn ước tính; hoạt động thương mại toàn cầu tiếp tục giảm sút trong khi căng thẳng thương mại gia tăng.

Nguy cơ bùng phát làn sóng lây lan mới trên diện rộng có thể dẫn đến việc tái triển khai các biện pháp những hạn chế nghiêm ngặt khiến cho tăng trưởng của nhiều nước tiếp tục suy giảm. Việc chậm trễ mua sắm và phân phối vắc xin có thể sẽ kéo dài những tác động của đại dịch đối với nền kinh tế và tăng nguy cơ căng thẳng thị trường tài chính.

Ngay cả khi đại dịch lắng xuống, các thiệt hại kinh tế từ cuộc suy thoái năm ngoái có thể vẫn sẽ kéo dài và nặng nền hơn. Niềm tin của người tiêu dùng và doanh nghiệp thậm chí có thể phục hồi chậm hơn, dẫn đến sức cầu nội địa tiếp tục yếu. Đại dịch có thể để lại hậu quả dai dẳng hơn với năng suất lao động, tích lũy vốn vật chất và nguồn nhân lực, điều này sẽ làm trầm trọng thêm xu hướng giảm trong kỳ vọng tăng trưởng dài hạn.

Mặc dù các chính sách tài khóa và tiền tệ của khu vực đã mạnh mẽ hơn so với các cuộc khủng hoảng trước đó, phần lớn các nền kinh tế EAP dự kiến vẫn sẽ phải đối mặt với các vấn đề về tài khóa và gia tăng nợ.

Rủi ro cũng có thể tăng lên do mức độ nợ tăng cao, thâm hụt tài chính rộng hơn. Hoạt động kinh doanh giảm sút làm tăng tỷ lệ thất nghiệp, giảm thu nhập và tác động đến tâm lý đầu tư có thể châm ngòi cho các cuộ khủng hoảng nợ. Các quốc gia có nợ và thâm hụt tài chính lớn sẽ trở nên đặc biệt dễ bị tổn thương. Nguy cơ căng thẳng tài chính có thể xảy ra đối với một số quốc gia nếu không có hỗ trợ bên ngoài.

Tăng trưởng toàn cầu yếu và các hạn chế đi lại đã làm xấu đi triển vọng phục hồi thương mại trong khu vực. Những bất đồng trong các vấn đề quan hệ quốc tế có thể dẫn đến tăng chi phí cho các doanh nghiệp, phá vỡ liên kết kinh tế toàn cầu, và giảm năng suất. Căng thẳng thương mại leo thang có nguy cơ gây thiệt hại cho hoạt động thương mại, đầu tư, chuyển giao công nghệ và tăng trưởng của khu vực. Trong đó các quốc gia phụ thuộc nhiều vào thương mại quốc tế sẽ bị tổn hại nhiều nhất.

Theo SBV

Xem 291 lần
Đánh giá bài này
(0 bình chọn)
Xem theo ngày tháng