TIN MỚI
Dịch vụ tài chính số đối với sự phục hồi và phát triển bền vững

Dịch vụ tài chính số đối với sự phục hồi và phát triển bền vững

Báo cáo “Ứng phó với đại dịch COVID-19: để không quốc gia nào bị bỏ lại phía sau” do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ủy ban Kinh tế và xã hội khu vực châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP) và Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố tháng 3/2021 cho rằng đại dịch COVID-19 đã chứng minh tầm quan trọng của tài chính toàn diện.

Đại dịch COVID-19 đã để lại những hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển kinh tế, xã hội của khu vực châu Á - Thái Bình Dương và trên toàn thế giới. Tuy nhiên, nó cũng đã góp phần đẩy nhanh quá trình ứng dụng công nghệ kỹ thuật số và chuyển đổi số trên nhiều lĩnh vực kinh tế- xã hội. Trong đó, các dịch vụ tài chính kỹ thuật số ngày càng cho thấy tầm quan trọng trong thúc đẩy tài chính toàn diện, hỗ trợ chính phủ và người dân ứng phó với tác động của đại dịch và ảnh hưởng từ việc triển khai các biện pháp ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh, đồng thời tiếp tục đóng vai trò lớn hơn trong giai đoạn phục hồi sau đại dịch.

Báo cáo “Ứng phó với đại dịch COVID-19: để không quốc gia nào bị bỏ lại phía sau” do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ủy ban Kinh tế và xã hội khu vực châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP) và Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố tháng 3/2021 cho rằng đại dịch COVID-19 đã chứng minh tầm quan trọng của tài chính toàn diện. Những tác động của cuộc khủng hoảng khiến hàng triệu người bị rơi vào cảnh nghèo đói cùng cực trên toàn cầu, trong bối cảnh đó, hỗ trợ tiền mặt tức thời của chính phủ tới các đối tượng này có thể được coi là một giải pháp cứu cánh. Tuy nhiên, việc không có tài khoản ngân hàng khiến các hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ khó tiếp cận được với các khoản hỗ trợ của chính phủ. Trong khi đó, các nước với hệ sinh thái thanh toán “từ chính phủ đến từng người dân” (Government to person G2P) phát triển có thể thực hiện chuyển các khoản tiền cứu trợ này một cách nhanh chóng.

Thực tế, việc số hóa các thanh toán G2P có thể giúp mở rộng các chương trình an sinh xã hội đến các cộng đồng cư dân ở vùng sâu, vùng xa với chi phí tương đối thấp. Tại Kazakhstan, chính phủ cho phép các thanh toán phúc lợi xã hội được thực hiện thông qua các mạng thanh toán kỹ thuật số như Yandex Money, WebMoney và Eksimbank Kazakhstan. Theo đó, người thụ hưởng không cần phải có tài khoản ngân hàng vẫn có thể nhận được tiền trợ cấp chỉ với việc sở hữu một số điện thoại di động. Tuy nhiên, tại các vùng sâu, vùng xa, tình trạng thiếu điện và thiếu các kết nối kỹ thuật số tiếp tục đặt ra những rào cản đáng kể cho sự hòa nhập tài chính. Ở một số nước, khả năng phối hợp vận hành cũng là một thách thức lớn bởi mạng di động được cung cấp bởi một công ty viễn thông trong khi các dịch vụ tài chính kỹ thuật số được cung cấp bởi một công ty khác.

Trong thời kỳ dịch bệnh, vai trò của các dịch vụ tài chính kỹ thuật số đã ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Các chính phủ và người dân đều đánh giá cao sự xuất hiện của các công cụ tài chính số an toàn, không tiếp xúc với chi phí hợp lý. Theo thống kê, các thanh toán kỹ thuật số nội địa và chuyển kiều hối điện tử đã có sự gia tăng đột biến trong dịch COVID-19, ví dụ như các giao dịch chuyển tiền kỹ thuật số từ Australia và New Zealand đến Fiji và Samoa đã tăng khoảng 400%. Tuy nhiên, COVID-19 cũng khiến cho tổng số giá trị của dòng kiều hối sụt giảm mạnh, khoảng 20% trên toàn cầu và 22,1% tính riêng ở Nam Á trong năm 2020.

Trong bối cảnh các nước phải thực hiện việc phong tỏa và các biện pháp hạn chế sự lây lan dịch bệnh, thì các thanh toán và giao dịch trực tuyến được xem như chìa khóa cho sự sống còn đối với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vi mô, nhỏ và vừa (MSME). Ngoài ra, người dân cũng lựa chọn các phương thức giao dịch ngân hàng mang tính “giãn cách xã hội” để hạn chế các hoạt động bên ngoài trong thời gian phong tỏa, cách ly. Để tiết kiệm chi phí, chính phủ nhiều nước đã đẩy mạnh sử dụng các phương tiện kỹ thuật số để thực hiện các giao dịch công, bao gồm cả việc trả lương cũng như các giao dịch thanh toán của chính phủ cho doanh nghiệp (Government to business- G2B). Ví dụ, Ấn Độ sử dụng các phương tiện thanh toán điện tử để trả lương cho công chức, trả lương hưu, tiền hoàn thuế và các khoản thanh toán khác của chính phủ cho người dân (G2P). Trong khi đó, Bangladesh và Philippines cũng đang tiến hành số hóa việc trả lương.

Bên cạnh đó, chính phủ nhiều quốc gia cũng đang tích cực triển khai số hóa tài chính công. Việc áp dụng các giải pháp tài chính kỹ thuật số đã giúp hệ thống thuế hoạt động hiệu quả hơn bằng cách cho phép các thanh toán, thu nộp tiền được thực hiện nhanh chóng và đơn giản hơn, đồng thời cung cấp cho những người tiết kiệm nhỏ quyền truy cập vào các dịch vụ tài chính quan trọng, bao gồm tài khoản tiết kiệm và các sản phẩm bảo hiểm. Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB, 2020) đã chứng minh việc tiếp cận các dịch vụ tài chính cơ bản — chẳng hạn như tài khoản giao dịch, tín dụng, sản phẩm tiết kiệm và bảo hiểm — góp phần giảm nghèo, thu hẹp chênh lệch thu nhập, giảm bất bình đẳng giới và gia tăng khả năng phục hồi. Nghiên cứu tại Bangladesh, Myanmar và Pakistan mới đây cho thấy hoạt động thương mại điện tử phi chính thức và thanh toán số đã góp phần nâng cao vai trò của phụ nữ, giảm tình trạng bất bình đẳng. Phụ nữ tại các nước này đang sử dụng nhiều hơn thương mại điện tử phi chính thức để nâng cao đời sống của họ và tăng sử dụng các dịch vụ tài chính số như: ví di động (mobile wallet), ngân hàng trực tuyến. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thương mại điện tử phi chính thức có thể là hướng đi cho tài chính toàn diện và giúp phụ nữ có sự độc lập kinh tế lớn hơn. Ví dụ tại Pakistan, nhiều phụ nữ không có cơ hội tiếp cận các dịch vụ tài chính, tài sản và đầu tư chính thức cần thiết để mở hoạt động kinh doanh có hiện diện vật lý thì mô hình thương mại điện tử giúp khắc phục hạn chế này. Với ưu điểm như giảm thiểu các chi phí hoạt động, chi phí cố định thấp và cho phép phụ nữ có thời gian làm việc linh hoạt, có thể kết hợp với việc chăm sóc con cái; mở ra khả năng tiếp cận các thị trường vốn không thể với tới trước kia,.... thương mại điện tử phi chính thức có thể giúp phụ nữ giải quyết với vấn đề gián đoạn trong hoạt động kinh doanh của họ. Thực tế cũng cho thấy các hoạt động kinh doanh trực tuyến và phi chính thức có khả năng tái khởi động sớm hơn nhiều so với các hoạt động kinh doanh chính thức trong suốt giai đoạn dịch COVID-19.

Báo cáo của ADB cũng cho rằng mối liên hệ giữa số hóa và các giải pháp tài chính kỹ thuật số hứa hẹn sẽ định hình lại hoạt động tài chính. Tại Châu Á, khoảng hai tỷ người chi tiêu trực tuyến hàng nghìn tỷ đô la mỗi năm và hàng chục triệu doanh nghiệp phụ thuộc trực tiếp vào thương mại điện tử. Năm 2018, giao dịch thương mại điện tử của khu vực chiếm ¼ thị trường kinh doanh đến tiêu dùng (B2C) toàn cầu, trong đó, dẫn đầu là Trung Quốc với những gã khổng lồ thương mại điện tử toàn cầu như Alibaba và Tencent. Tại Indonesia, Gojek - một nền tảng thương mại điện tử ra đời năm 2010 đã phát triển nhanh chóng và mở rộng các ví điện tử để cung cấp dịch vụ tài chính số. Là một dịch vụ đặt xe, với 30 triệu người dùng hàng tháng tại các thành phố và thị trấn, Gojek là một trong những ví điện tử và nhà cung cấp các dịch vụ tài chính số lớn nhất cho các doanh nhân vi mô tại Indonesia. Năm 2016, Gojek cho ra đời nền tảng ví điện tử Go-Pay, cho phép người dùng thực hiện các giao dịch thông qua ứng dụng. Go-Pay trở thành nền tảng ví điện tử có tốc độ tăng trưởng và số lượng người dùng cao nhất tại Indonesia. Thông qua nền tảng Go-jek và Go-Pay, các doanh nghiệp nhỏ có thể mở rộng cơ sở khách hàng của mình. Các doanh nhân siêu nhỏ sử dụng dữ liệu bán hàng điện tử để chứng minh khả năng trả nợ và qua đó tiếp cận tín dụng và bảo hiểm từ các ngân hàng đối tác của Go-Jek.

Thực tế đã cho thấy các dịch vụ tài chính kỹ thuật số và fintech có thể giúp thúc đẩy tăng trưởng bao trùm và khả năng phục hồi. Chúng là những công cụ cho phép các chính phủ tiếp cận các hộ gia đình và doanh nghiệp một cách nhanh chóng với chi phí thấp. Điều này đặc biệt quan trọng trong thời kỳ khủng hoảng, khi các khoản tiền hỗ tợ cần phải được phân phối một cách nhanh chóng và hiệu quả. Hơn nữa, việc số hóa các dịch vụ tài chính là một công cụ quan trọng để giải quyết vấn đề dễ bị tổn thương cùng những tác động của cuộc khủng hoảng COVID-19 để khi các quốc gia phục hồi sau đại dịch thì những người dễ bị tổn thương nhất và ít kết nối nhất không bị bỏ lại phía sau. Với nhiệm vụ phát triển các dịch vụ tài chính kỹ thuật số, các quốc gia cần đưa ra các giải pháp để đảm bảo một quá trình chuyển đổi thuận lợi theo hướng sử dụng hiệu quả các dịch vụ này. Một cơ sở hạ tầng kỹ thuật số tương xứng sẽ là chìa khóa cho quá trình đó. Tương tự, một cơ sở pháp lý và các quy định phù hợp là cần thiết để giải quyết các vấn đề rủi ro an ninh mạng, phòng chống rửa tiền, chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh và xu hướng độc quyền của các nền tảng kỹ thuật số và đảm bảo quyền riêng tư của người tiêu dùng. Đặc biệt, các hệ thống nhận diện quốc gia được xem là chất xúc tác cần thiết để phát triển các dịch vụ tài chính kỹ thuật số.

Mặc dù lợi ích đem lại là rất đáng kể, nhưng quá trình số hóa cũng xuất hiện những rủi ro liên quan đến công nghệ và việc sử dụng công nghệ. Các rủi ro tập trung vào công nghệ bao gồm các vấn đề an ninh mạng như: thư rác, phần mềm độc hại để tấn công và các vi phạm khác về quyền tài sản kỹ thuật số. Các rủi ro không tập trung vào công nghệ bao gồm đánh cắp trực tuyến, bắt nạt trên mạng, rò rỉ dữ liệu và vi phạm quyền riêng tư. Số hóa các dịch vụ tài chính cũng có thể tạo ra rủi ro cho sự ổn định và tính toàn vẹn của hệ thống tài chính, liên quan đến tấn công mạng, gian lận và rửa tiền. Những biện pháp tiềm năng mà các chính phủ có thể thực hiện để giảm thiểu các rủi ro này bao gồm: tăng cường các khuôn khổ pháp lý, nâng cao nhận thức, tăng cường năng lực giám sát và thực thi, như cũng như hợp tác chia sẻ thông tin quốc tế.

Theo SBV

Xem 15 lần
Đánh giá bài này
(0 bình chọn)
Xem theo ngày tháng